Nào ta cùng quét
Trong những đớn hèn của cuộc đời thì tôi thấy có hai thứ tệ nhất, đó là thói bợ đỡ và con cha cháu ông. Hai cái thứ này thời nào cũng có, xã hội nào cũng có, từ những ngóc ngách tối tăm của chốn thị thành hay làng quê cho tới những cơ quan bề thế đều có nó hiện diện, như là một ung nhọt ghẻ lở trên cơ thể xã hội mà dùng bao nhiêu thuốc đặc trị vẫn không lành được. Do vậy nên tôi ghét cay ghét đắng cái ung nhọt này. Mà chắc là không chỉ riêng tôi đâu, hầu như tất cả những ai còn có mang trái tim chân thật trong lòng mình thì đều ghét nó thậm tệ, tìm đủ mọi cách để trừ khử nó, nhưng đớn đau thay, lúc nào nó cũng vẫn hiện diện trước mũi để trêu ngươi chúng ta, như là muốn thách thức những giá trị cao đẹp của cuộc sống vốn rất phù hoa và giả dối này.
Danh tướng Trần Bình Trọng ngày xưa bị giặc Nguyên bắt, chúng tìm đủ mọi cách để dụ dỗ ông theo chúng nhưng dù mang gông trên cổ, ông vẫn khẳng khái kêu lên: Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc! Muôn đời không thèm bợ đỡ hay phản bội là vậy. Ngày nay những tấm gương tiết liệt như vậy sao mà hiếm thế, không những loại trừ mà người ta còn tìm đủ mọi cách bợ đỡ cấp trên để được vinh thân phì gia, để được tí chút quyền lực mà nịnh trên đạp dưới, họ xem đó như là chân lý cuộc sống, một thứ chân lý xám xịt gương mặt mình mà họ vẫn cười hề hề, coi như đó là biết thức thời, biết sống và biết cách tiến thân, dựa trên những đồng tiền bỉ ổi nhầy nhụa mà thăng quan tiến chức. Tiến được chức rồi, lại tha hồ vơ vét để bù lại, và cái vòng xoáy kiếm chác này lập lại hằng ngày như những vết đau của xã hội và của cả cuộc đời.
Bà con thân thiết của sự bợ đỡ chính là con cha cháu ông, hoặc có người gọi là 5 C: con cháu các cụ cả! Bốn chữ Con Cha Cháu Ông này thực ra đâu có gì đáng tội, nhưng tại vì chính chúng ta dựa vào đó để hành sự, để chen chân vào những món bở mà kiếm chác, mà lũng đoạn, về vật chất cũng như về quyền lực, do vậy mà khi nói đến bốn từ này thì những người chân chính vẫn coi khinh chẳng khác gì lũ bợ đỡ sâu mọt kia vậy. Bố làm quan thì lôi con cháu vào làm tướng, để chúng dựa hơi cha ông mà kiếm chức kiếm quyền, kiếm tiền kiếm lợi là vậy, dù khả năng chúng chỉ là hạng bét nhưng bề thế của cha ông chúng như một cái trướng vững chắc để chúng núp vào đấy mà lên gân, mà ăn chơi trác táng trong chốn ao tù trưởng giả là vậy.
Nếu ai đọc đến đây có lẽ bảo cái ông chú già này chắc lại nói chuyện chính trị đây? Ô không đâu, vì những thói đớn hèn này thì không cần chính trị cũng đầy dẫy trong cuộc đời rồi, mà cái thằng tôi thì cũng chẳng có gì phải ngán chính trị cả, miễn là đừng chính trị cay cú là được, vì tôi thích lạc quan, và lắm lúc cố lạc quan trong những hoàn cảnh đớn đau hay trong những điều cay độc nhất của cuộc đời để tìm cái vui trong sự buồn bực, tìm cái tốt trong một trời xấu xa là vậy. Cái thói bợ đỡ và dựa dẫm vào con cha cháu ông này đâu phải bây giờ mới có nên tôi chẳng sợ ai bảo mình xỏ xiên ai, vì lúc nào tôi cũng quan niệm: Rác rến thì cần phải quét ra ngoài cho sạch nhà, ghẻ lở thì cần phải bôi thuốc mới lành được, có thể bôi vào nó rất rát và rất đau, nhưng nhất quyết phải bôi vì nếu không ghẻ sẽ lan rộng ra thành ung nhọt, thành ung thư thì đau nhức biết chừng nào?
Đành rằng là người thì ai cũng có sai sót vì nhân vô thập toàn mà, nhưng việc bợ đỡ thì không bao giờ là sai sót hay sai lầm cả, đó là sự cố ý có tính toán để trục lợi, do đó nó như một thứ ghẻ lở cần phải chữa trị, nhất là đối với những người trẻ, tinh hoa của đất nước. Sự sai lầm của người lớn chúng ta khi quan niệm bợ đỡ và con cha cháu ông là chuyện đương nhiên khiến cho giới trẻ nhụt chí phấn đấu và trở thành kẻ cơ hội, không từ những cách cho dù là thấp hèn nhất để tiến thân, tiến thân đây không là tiến bộ về tri thức, về nhận thức mà đơn giản chỉ là kiếm tiền thật nhiều bằng mọi giá, những người trẻ này quên đi rằng quyền lực không phải là tất cả, mà chính khả năng thực sự của mình đưa mình thăng tiến thì mới đáng quý.
Thế thì… Nào, chúng ta hãy cùng cầm chổi lên, quét ngôi nhà tâm hồn cho nó sạch nhé! Cho dù đó chỉ mới là những ý nghĩ thoáng qua chứ chưa phải là việc dựa dẫm hay bợ đỡ thực sự, nhưng cần phải giữ sự tỉnh táo và trong sáng để có thể vươn lên bằng chính sức lực của mình, không cần gốc gác, không cần danh xưng, tinh chất bao giờ cũng đáng quý hơn cái hào nhoáng bên ngoài nhiều, vì cái vỏ bọc dựa dẫm ấy thì thế nào cũng có ngày phải rơi xuống thôi. Thực đấy bạn à.
Nỗi đau của một căn bệnh kinh niên
Hôm nay nhân đọc bài viết trong mục NGHĨ của tác giả Bằng Vân trên báo Tuổi Trẻ, thấy nó đau đáu ở đâu trong đầu óc mình mà chẳng biết trách ai nữa, chỉ biết gồng mình lên mà cảm nhận cái nỗi nhức nhối này. Thôi thì trước hết hãy đọc lại bài viết này đã:
Khoảng 200/1.635 viên đá (mỗi viên có hai câu thơ) của công trình thư pháp Truyện Kiều viết trên đá cuội của tác giả Nguyễn Văn Tân trưng bày tại công viên 3-2 trong khuôn khổ Festival Huế 2008 đã bị đánh cắp chỉ sau khi ra mắt hai đêm.
Những viên đá dù đã được tác giả và các cộng sự kỳ công gắn định vị lên giàn sắt dài 2.905m, rộng 81cm, cao 172cm nhưng vẫn bị những người mang danh là đi thưởng lãm văn hóa lấy mất. Thật đau lòng!
Điều đáng nói là chuyện xâm hại các tác phẩm nghệ thuật từ lâu đã trở thành căn bệnh kinh niên của festival, của Huế.
Nhớ lại festival năm 2006, chiều 3-6, nghệ sĩ Đinh Khắc Thịnh vừa hoàn tất tác phẩm sắp đặt Mùa lục lạc gồm hơn 2.000 gương sen được làm bằng giấy bồi và lục lạc gắn trải dài hơn 200m trên hè phố Nguyễn Đình Chiểu. Chưa kịp chụp ảnh đứa con tinh thần của mình thì sáng 4-6, tác giả bàng hoàng, quặn thắt khi chỉ trong một đêm, gần 20% số gương sen đã nhanh chóng bị những người thiếu ý thức đập cho méo mó hoặc lấy đi, cần sắt bị vít đổ… Chứng kiến cảnh ấy, cũng như anh, chúng tôi cay xè mắt, ruột xót như xát muối.
Trước nữa, tác phẩm sắp đặt Dưới giàn thiên lý của Đinh Khắc Thịnh và Lê Thừa Tiến thực hiện cũng tại phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu nhân Festival nghề truyền thống Huế 2005, gồm 1.000 chuông gió được kết bằng 5.000 nón lá các cỡ, 8.000 gương soi tráng thủy và 1.000 cái chuông; toàn bộ tác phẩm được treo trên một giàn tre dài 150m… cũng bị phá tả tơi dù chưa vãn hội.
Cũng tại Huế, các khu vườn tượng bên tả và hữu ngạn sông Hương gồm 96 tác phẩm, thành quả của ba trại sáng tác điêu khắc quốc tế được tổ chức vào các năm 1998, 2002 và 2004, cũng luôn bị xâm hại với mức độ nghiêm trọng. Bức bị vít đổ, bức bị cưa ngang, bức bị viết vẽ nhằng nhịt, cạy mất bảng hiệu… Các nhà quản lý phải làm hàng rào sắt rồi lấy dây xích chằng quanh tượng; các giảng viên và sinh viên Đại học Nghệ thuật Huế sau khi tu sửa những bức tượng hư hỏng đã dùng bút phủ viết những lời kêu gọi rất thống thiết: “Xin đừng phá tượng! Đi sửa mệt lắm!”… nhưng những người dân thiếu ý thức vẫn hằng ngày tàn phá các tác phẩm nghệ thuật.
Chuyện phá phách, cưỡng đoạt cái đẹp không phải là hiếm ở nước ta.
Tại lễ hội hoa anh đào lần thứ hai được tổ chức ở Hà Nội ngày 6-4, những người bạn Nhật Bản bàng hoàng và khiếp đảm khi chỉ trong nháy mắt, 300 cành hoa anh đào tươi mà họ công phu chuyển từ quê nhà sang để dựng thành ba cây anh đào lớn và rất đẹp đã bị những công chúng Việt Nam, phần đông là giới trẻ, chen lấn xô đẩy nhau để vặt trụi.
Lại nhớ chuyến xuyên Việt vừa qua của tôi cùng 30 du khách người Pháp, Bỉ, Canada. Chặng dừng chân trên đỉnh đèo Pha Đin (Điện Biên), khi thấy một bông hoa chuối rừng nở đỏ tươi, đẹp hoang sơ, người lái xe định bẻ mang về tặng người thân. Ngay lập tức, cả đoàn khách sôi lên, kịch liệt phản đối. Người phân tích: “Vẻ đẹp thiên nhiên là của chung nên phải để mọi người cùng được thưởng thức”, người gay gắt thì mắng: “Anh có trồng cây chuối ấy đâu mà lại đòi chiếm cho riêng mình”… Nhiều người tái mặt. Anh tài xế lầm lũi trở về xe, từ bỏ ý định ban đầu.
Xem ra trước cái đẹp, chúng ta thua kém một trời một vực với cư dân một số nước. Họ thấy cái đẹp thì chia sẻ cho người khác để cùng tận hưởng, trong khi chúng ta tìm mọi cách tư lợi hoặc không ăn được thì đạp đổ. Với họ, ký ức về những ngày trèo đèo lội suối, cuốc bộ xuyên rừng, khám phá và trải nghiệm cuộc sống giữa thiên nhiên hoang dã… là báu vật, thì không ít người chúng ta lại “khẳng định” dấu ấn của mình bằng chiến tích ăn thịt thú rừng. Nghe một tiếng chim gù, họ lấy ống nhòm ra say sưa ngắm bộ lông, cái mỏ, động tác chuyền cành…, còn nhiều người chúng ta chỉ nhăm nhe mang súng ra bắn…
Không cái gì tự nhiên mà có. Nếu từ nhỏ, đứa trẻ đã được cha mẹ dạy mang thóc rắc trước hiên nhà cho những chú chim hoang dã đến ăn chứ không phải trèo cây phá tổ hay lấy ná bắn chim, chắc chắn lớn lên chúng sẽ yêu và bảo vệ thiên nhiên để được nghe tiếng chim lích chích. Nếu trước mặt trẻ, người lớn không khạc nhổ, nhả bã kẹo cao su ra đường… thì chúng sẽ không bao giờ xả rác bừa bãi…
Để làm giàu có khi ta chỉ mất dăm mười năm, nhưng để nuôi dưỡng tâm hồn ta phải mất cả thế hệ. Nhưng muôn đời, giàu có về tinh thần mới là giá trị trường tồn.
Giờ thì xin lạm bàn một tí về bài viết trên nhé!
Đòi hỏi người dân có ý thức văn hóa ngay lập tức không phải là chuyện dễ dàng, bởi đây là một vấn nạn giáo dục, vì từ nhỏ chúng ta không được dạy dỗ môn đức dục để sống cho thành người, cứ việc toán – văn – văn – toán kê điểm lên thật nhiều để chạy theo thành tích mà quên rằng sự trung thực của một con người đáng giá ngàn vàng. Đến khi lớn lên thì những điều vô ý thức ấy đã trở thành thói quen, không thể nào ngày một ngày hai bỏ ngay đi được. Ngày xưa lúc tôi học lớp Ba, khi tôi và cha tôi đang đi trên đường gặp một đám tang, tôi dừng lại theo cha tôi mà chưa kịp bỏ mũ xuống liền bị cha tôi trừng mắt thật nghiêm, về nhà suýt bị ăn đòn vì cha tôi bảo rằng con không nhớ bài học đức dục trong trường hay sao, gặp đám tang thì phải dừng lại, kính cẩn bỏ mũ xuống, cho dù đó là người không hề quen biết, đi ngang qua công sở thấy chào cờ là phải dừng lại đứng nghiêm trang đợi chào cờ xong mới đi tiếp, lên xe buýt phải nhường chỗ ngay cho người già và phụ nữ có thai, thấy ông bà lão qua đường ta phải giúp đưa họ qua ngay…, những bài học nhỏ nhoi ấy ngày nay biết tìm đâu ra? vì có ai dạy dỗ hay nhắc nhở cho đâu mà nói, chỉ biết ê a những bài học vô bổ mà không biết nhìn đến những điều thực tế nhất để gìn giữ và nuôi dưỡng giá trị một con người. Do vậy hãy khoan trách là chúng ta cư xử thiếu văn hóa mà hãy tự trách là chúng ta không được dạy dỗ văn hóa là gì, thậm chí có người chẳng có tí văn hóa nào chứ đừng nói gì là thiếu, có đâu mà bảo thiếu?
Bởi thế cho nên xin hãy khoan bắt chước cách thưởng lãm của dân Tây đã. Mặt bằng văn hóa ta chưa có, hoặc chưa đều, thì xin hãy khoan bày ra những cuộc triển lãm phóng khoáng như thế, kẻo bị phá phách tan nát trông càng tội nghiệp hơn. Năm nào cũng nghe nói Chợ hoa Xuân, đường hoa Xuân bị cướp bị phá nát tan hoang thấy mà buồn. Không cần phải phô trương khoe mẽ đâu, hãy cứ tạm dành cho văn hóa nghệ thuật những chỗ đứng riêng của nó, khi mặt bằng văn hóa đã được nâng dần lên thì hãy tính đến chuyện khoáng đạt như dân Tây, còn ngày nay ai muốn thưởng lãm, xin hãy đến bảo tàng, ai muốn vui chơi, xin hãy ra hội chợ, đừng trộn lẫn với nhau như thế mà thảm cảnh cướp giật phá phách xảy ra ngẫm lại thêm buồn, vì chẳng lẽ đem triển lãm ngoài trời mà cử cả hằng loạt đội đặc nhiệm bảo vệ ngày đêm thì không gian nặng nề quá, còn chi là thưởng lãm nghệ thuật nữa?
Nhưng trên tất cả, xin các cấp thẩm quyền về giáo dục hãy mạnh dạn trở lại nấc thang đầu tiên, thay đổi cách giáo dục ngay từ những chú nhóc nhỏ xíu cho đến khi trở thành người thành đạt ra ngoài đời, mười năm, hai mươi năm, cả một thế hệ sau cũng sẽ không muộn đâu, miễn sao cái ý thức văn hóa thành nền tảng thì cả dân tộc mới vững mạnh được, chứ càng phô trương nhiều thì càng thấy phi văn hóa nhiều, y như một căn bệnh kinh niên vậy thì việc phô trương ấy chẳng hề có ích lợi gì cả, chỉ thấy xót trong lòng thêm mà thôi.
Lãng mạn là cái chi chi?…
Nếu đem chiết tự ra mà phân tích thì cũng khá là khó hiểu. Lãng là chi? mà mạn cũng là chi? Nhưng đã là người thì hầu như ai cũng biết lãng mạn là gì rồi, ở đây chúng tôi không nói đến chủ nghĩa lãng mạn trong văn học hoặc chủ nghĩa lãng mạn trong cách mạng có từ thế kỷ thứ 19 ở Pháp để đối lại với khuynh hướng cổ điển, vì chủ nghĩa lãng mạn ấy chủ trương vượt lên trên thực tế và dựa vào ý muốn chủ quan mà sáng tác hoặc lãng mạn cách mạng chủ trương đặt niềm tin vào tương lai tươi đẹp đến mức quá lý tưởng thành ra phi thực tế. Ở đây chúng ta hiểu lãng mạn theo cách cảm nhận của người đời thôi, chẳng bàn sâu xa hơn làm chi thêm rối rắm, cứ hiểu lãng mạn tựa như để xuôi lòng mình cho gió cho mây, xuôi hồn mình cho một bờ vai nhỏ, một mái tóc mềm đưa, thả đầu óc mình cho mây phiêu lãng, cho ái tình và thi ca vậy…
Chất lãng mạn trong người thì ai mà không có nhỉ? nhưng đừng đi quá trớn, tình tứ quá, xao lòng quá… rồi đến buông cả lòng mình vào những nghịch cảnh trong ái tình thì không nên đâu. Ai mà không ưa ngắm nhìn phụ nữ đẹp, ai mà chẳng thích tán chuyện với một người ăn nói có duyên? Có thể chỉ vì một nụ cười thôi mà khiến ta chết mê chết mệt, quên hẳn ta đang là ai. Có thể chỉ vì một mái tóc nghiêng nghiêng xỏa xuống đôi bờ vai thon nhỏ khiến ta quên đi là ta cần phải làm gì, và lúc nào thì cần phải nên dừng lại? Nếu chỉ vì thế thôi thì đẹp quá, nhưng ngặt nỗi con người ta cứ thích dấn tới một cách bừa bãi thành ra những việc mình làm, những điều mình nghĩ thật là vẩn vơ, như là lang thang ở những nơi vô định vậy, mà những nơi ấy thì thật là nguy hiểm.
Thực chất thì hiếm người trên đời mà không biết lãng mạn là gì đâu, ngay đến những tu sĩ cực đoan nhất cũng vẫn có lúc thả hồn mình đến một sự việc nào đó không ở trong tầm tay mình chứ đừng nói chi là những con người bình thường, vì vốn dĩ ông Trời sinh ra mình là như rứa, cái đó thực ra chỉ là cảm xúc nhất thời và người ta hoàn toàn có thể chế ngự được, hầu hết những ai tôn trọng những giá trị đạo đức thì sau khi biểu lộ cái cảm xúc nhất thời ấy, họ chỉ mỉm một nụ cười và biết cách xì tốp lại ngay, biến hóa nó thành những cảm giác tự nhiên thông thường để những quan hệ riêng tư không có điều kiện đi sâu hơn, không buông thả theo cảm xúc ấy rồi sinh ra suy nghĩ vẩn vơ có thể rất tai hại cho hạnh phúc mình đang có, nhưng cũng không ít người cứ việc buông thả thoải mái coi nó thế nào, và sự lãng mạn ấy có thể như một con dao hai lưỡi, cắt đứt danh dự mình xoèn xoẹt lúc nào không hay, lúc ấy không còn là lãng mạn nữa mà coi chừng là lãng nhách đấy nhé.
Thế thì có người lại bảo: Vậy có nên lãng mạn lắm không? Người lãng mạn quá có đáng trách không? Papi tui có phải là nhà tâm lý học hay luân lý học đâu mà biết? Chẳng qua là vì nghĩ sao nói vậy, tám chuyện cho vui cửa vui nhà thôi, chứ xét nét chi li từng điều kiện, từng chi tiết ấy làm chi? Phàm là blogger chính hiệu con nai vàng thì tất nhiên khi viết ra điều gì, người ta cũng muốn người khác đọc và nhận định cho rôm rả, do vậy mà viết khô khan quá ai mà coi cho? Thế thì cũng lãng mạn một tí xíu, phiêu lưu trên bờ môi của ai đó tí xíu bằng chữ nghĩa cho vui, miễn sao đừng làm thật thôi, kẻo bạn trai bạn gái người ta, vợ chồng con cái người ta lên án thì chết toi ngay. Do vậy mà xin người đọc đừng nhận định đúng sai mà lại đào sâu quá, thành ra mắc bệnh lãng mạn cả xóm thì không nên đâu.
Cái điều cần nói trong lãng mạn đó là phải biết dừng lại lúc nào.
Mà lúc nào nhỉ? Thật là khó nói. Tôi không quan niệm một phút xao lòng của Nhà thơ Thuận Hữu là lãng mạn đâu. Ông viết:
Ai cũng có một thời để yêu và một thời để nhớ
Ai cũng có những phút giây ngoài chồng ngoài vợ
Đừng có trách chi những phút xao lòng!
Cái phút xao lòng của ông là hoài niệm, nhưng không phải sống cho hoài niệm, mà lấy đó làm yếu tố so sánh để yêu thương người bạn đời của mình hơn, bỏ qua cho mình và bỏ qua cho bạn đời của mình. Cái xao lòng ấy nó chỉ là một thoáng bâng khuâng cho dĩ vãng, nhưng vẫn còn đó sự trung thành, còn lãng mạn là một sự phiêu lưu khó có bến dừng, tùy thuộc nơi ta mà thôi, khi ta nhận thấy đó chỉ là những cảm xúc thoáng qua cho vui vẻ hoặc cho rôm rả một câu chuyện thì có gì đâu mà đáng trách? nhưng nếu lúc nào cũng tơ tưởng vấn vương trong đầu thì e rằng nguy hiểm sẽ đến cận kề mình lúc nào không hay. Ta biết nương theo suối tóc người đẹp nào đó mà bay bổng thì ta cũng cần phải kiểm tra cái bố thắng xe mình để biết dừng lại kịp lúc, phải có lập trường kiên định chứ đừng để cái bố thắng ấy mòn vẹt đi thì ta cứ bay mãi trong men ái tình bâng quơ và ngổn ngang của người ta e rằng có ngày chết không kịp ngáp.
Thôi, tạm dừng ở đây đã, nói dài dòng quá e rằng mình cũng thuộc loại lãng mạn thâm căn cố đế rồi. Cứ thế đi nhé! Vui vẻ, chân thật và yêu đời, đó cũng là nét lãng mạn đáng yêu đấy thôi!
Hai tiếng Anh Em
Tôi thường rất lấy làm căm phẫn khi đọc những mẩu tin anh em đánh nhau, anh em đưa nhau ra tòa, anh em giành giật chiếm đoạt nhau thứ này thứ khác… Mỗi lần đọc những tin đại loại như thế, tôi tức muốn điên người lên được. Chẳng phải vì tôi lấy luân lý ra mà dạy đời đâu, vì tôi còn phải học ở đời rất nhiều, học chứ chẳng phải là dạy. Tôi có nỗi bất hạnh là không được làm thầy sau những lần hồ sơ gọi vào trường sư phạm đã gởi về nhưng hoàn cảnh đã khiến tôi dây dưa rồi trôi tuột khỏi tầm tay, cho nên không được dạy, chứ chẳng phải là “mất” đâu nhé! Có được dạy đâu mà mất? Tôi không dám đem luân lý ra mà so sánh, nhưng tôi nhận thấy rằng, luân lý là một cái vốn rất quý, và tình cảm anh em cũng thế, cũng thiêng liêng và cao quý như vậy.
Ngay từ nhỏ, chúng tôi đã dị ứng với tiếng “tui” khi xưng hô với nhau, anh em là anh em, bao nhiêu tuổi cũng phải xưng hô như thế, bạc đầu cũng vẫn anh ơi chị ơi em đây… Vợ chồng cũng vậy, khi cãi nhau cũng phải là anh anh em em chứ xưng hô bằng tui là không yên đâu nhé! Cái tiếng anh anh em em nó tạo cho chúng ta một cảm giác êm ái và yêu thương biết chừng nào. Do vậy mà mỗi khi nghe anh em ruột xưng hô với nhau ông – tui hoặc thậm chí tao – mày tôi thấy nó lạ lẫm làm sao ấy, lạ lẫm vì tiếng mẹ đẻ mình đã cưu mang hai chữ anh – em sao không biết đem ra mà xài? Uổng quá đi phải không?
Tình anh em – nghĩa huynh đệ thiết nghĩ chúng ta đã biết, đã nghe quá nhiều ngay từ tấm bé cho đến khi trưởng thành nên tôi cũng mạn phép không nhắc lại làm gì, nhưng sau khi lục lại hơn nghìn tấm ảnh cưới con trai thứ của tôi vừa rồi, tôi chợt thấy mấy tấm ảnh rất cảm động này…

Trời nắng, nhà đám không thể dựng cái lọng vì lấn lòng đường giao thông nên người anh cả cầm dù ra đứng che nắng cho hai em suốt cả buổi. Nhìn lại thấy mà thương quá, thấy xúc động quá. Thấy làm anh thật khó mà cũng thật là dễ, chỉ cần những cử chỉ nhỏ nhoi ấy thôi cũng đủ nói lên biết bao nhiêu lời…
Ông bà ta thường nói: “Không cho ruột ăn, nhưng động tới ruột thì ruột đau” là vậy đó, cái tình máu mủ ruột thịt không có gì ví được, so sánh được, nó được cảm nhận bằng những gì thiêng liêng nhất của một con người, và vì thế mà nó vô giá. Người anh không chỉ là người sinh trước em, lớn hơn em vài tuổi, mà người anh cũng còn là người thầy của em ngay từ khi còn thơ, đi học, làm bài vở, không biết gì, không hiểu gì thì cứ anh ơi, chị ơi, chỉ cho em cái này, bày cho em cái kia… Nhờ đó mà qua từng ngày lớn lên, kiến thức ta được vững vàng hơn trước, người anh, người chị có khác chi người thầy đâu? Do vậy mà trong ngày Nhà Giáo năm nay, tôi nảy ra cái ý để viết entry này như một lời biết ơn anh chị tôi ngày xưa, anh chị chúng ta ngày xưa, ít nhiều gì thì cũng đã dạy ta, ít nhiều gì thì anh chị cũng là thầy của ta là vậy.
Vậy thì hỡi ai đó, nếu có đọc qua cái entry này thì cũng xin hãy ngẫm lại mình một tí đi nhé! Hãy luôn là anh anh em em với nhau nhé! Hãy luôn nhớ đến anh chị mình với những tình cảm thiêng liêng trân trọng nhất đấy nhé! Một chữ cũng là Thầy, nửa chữ cũng là Thầy, phải thế không nhỉ?
Hà Nội và nỗi nhớ…
Tôi không phải là người Hà Nội, nói đúng hơn là không được là người Hà Nội. Khi nói thế nghĩa là tôi dành những tình cảm trân trọng của mình cho Hà Nội, chẳng phải đó là vì thủ đô nên tôi trân trọng đâu, nhưng qua những cảm nhận từ sách báo, từ âm nhạc, từ văn thơ và cũng từ thực tế khi tôi ghé thăm mảnh đất đáng nhớ này cách đây mấy năm, tôi thấy quả thật Hà Nội có một chỗ đứng rất đáng trân trọng trong lòng tôi cũng như mọi người.
Vì sao thế nhỉ?
Những ai đã từng biết Hà Nội qua thơ văn thì rõ ràng rành Hà Nội hơn tôi rồi, vì biết bao sách báo khảo luận tự lâu nay đã nói về nó, nhưng hôm nay tôi muốn nói về Hà Nội qua cảm nhận âm nhạc để biết cái tuyệt vời của nó, Hà Nội đã sản sinh ra không biết bao nhiêu bài ca lắng đọng hồn người trải qua hằng mấy thế hệ, cho dù các tác giả của nó người ở quê hương, người di cư vào Nam, người tha hương nơi đất khách, cũng vẫn nhớ về Hà Nội với một niềm thương vô bờ bến. Trong entry này tôi chẳng ngại ngùng gì mà không dám nói đâu. Xa Hà Nội thấy nhớ thấy thương, phải bị chia xa Hà Nội thì lại thấy mất đi cả nửa hồn mình. Nhạc sĩ nào khi viết về Hà nội cũng đều cảm nhận như vậy cả, mà không phải chỉ Nhạc sĩ mà thôi đâu, người nghe cũng thế, cái chất Hà Nội nó len vào và ghi dấu ấn khi cả một thời biết Hà Nội qua âm nhạc.
Hôm qua vô tình nghe lại bài Giấc mơ hồi hương của Nhạc sĩ Vũ Thành, tuy đây là bài hát của một người di cư sau sự kiện 1954 chia cắt đất nước, nhưng không giấu nỗi niềm nhớ thương thực lòng của một người nghệ sĩ, chuyển thương nhớ của mình qua các nốt nhạc và giai điệu mà khi cất lên tiếng hát quả thực nghẹn cả lòng người, trong đó có những đoạn ca từ vô cùng xúc động:
Lìa xa thành đô yêu dấu,
một sớm khi heo may về
Lòng khách tha hương vương sầu thương
Nhìn “em” mờ trong mây khói,
bước đi nhưng chưa nỡ rời
Lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt lyRồi đây dù lạc ngàn nơi
Ta hướng về chốn xa vời
Tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai
Nghẹn ngào thương nhớ “em” … Hà Nội ơi
Làm sao khi nghe những dòng nhạc như thế này mà quên được nhỉ? Cái chữ em trong dấu ngoặc kép này coi Hà Nội như một người tình, một người yêu không thể nào rời ra được, thế mà phải chia xa, đất nước chia làm hai miền, lòng người ly biệt quặn đau không dứt được…
Ta nhớ thấy em một chiều chớm thu
Dáng yêu kiều của ngày đã qua
Thướt tha bên hồ liễu thưa…
Lắng tiếng tiêu buồn của ngàn phím tơ
Thiết tha thề ước …
mối duyên hờ, đã phai mờ, trong bóng đêm mơ hồ.
Khi hát đến câu này thì quả không thể nào dằn được nữa, nhớ nhung đã làm lệ dâng đầy khóe mắt. Khi tôi nghĩ đến cái tâm tư của của một người rời Hà Nội vào Nam qua dòng nhạc tuyệt vời này thì tôi cũng lại nhớ đến những dòng nhạc bi hùng khác của một người miền Nam tập kết ra Bắc không kém phần lai láng tuyệt vời như dòng nhạc trên chút nào:
Nhớ những cơn mưa dài cuối đông,
áo chăn chưa ấm thân mình.
Và nhớ lúc bom rơi thời chiến tranh,
đất rung ngói tan gạch nát.
Em vẫn đạp xe ra phố,
anh vẫn tìm âm thanh mớị
Bài hát đôi ta là khúc quân ca,
là ước mơ xa hướng lên Ba Đình,
tràn niềm tin!
Tuy đây là một bài nhạc đỏ nhưng cái thi vị của giai điệu và lời ca vẫn cuốn hút một thời những người như tôi, tôi chỉ nói đến khía cạnh nghệ thuật thôi, vì Nhạc sĩ Hoàng Hiệp trong bom đạn ông cũng đã dùng chất đỏ của nhạc tạo nên cái men nghệ thuật không thể nào quên:
Nhớ phố thâm nghiêm rợp bóng cây,
tiếng ve ru những trưa hè.
Và nhớ những công viên vừa mới xây,
bước chân em chưa mòn lốị
Ôi nhớ Hồ Gươm xanh thắm,
nơi Tháp Rùa nghiêng soi bóng,
thành cũ Thăng Long,
hồn nước non thiêng
còn lắng đâu đây dấu xưa oai hùng.
Thật vậy, cái chất nghệ thuật trong ngôn từ âm nhạc không có biên giới, theo tôi rất khó phân biệt được vì đó là cái hồn, và không phải bài hát nào cũng có hồn cả đâu. Song khi nhớ lại những bài hát về Hà Nội bỗng dưng trong tôi trào lên một cảm xúc khó tả, cho dù là ai viết, người di cư hay người tập kết không thành vấn đề, vì trên tất cả, Hà Nội như bóng mát làm dịu lòng người, cho dù lời bài hát Hận ly hương này ca lên vẫn vô cùng ray rứt, nhưng quả thực rất tuyệt vời:
Xa quê, xa mái tranh thân yêu
xa bến xưa cô liêu, với hình bóng quê nghèo.
Đêm nay ta lặng ngắm mây trôi,
nhớ về chốn xa xôi, hận sầu dâng đầy vơi…
Cái chữ hận nơi đây chẳng phải trách một cá nhân hay một chính thể nào, mà cái hận ở đây là hận cho phận người không được bên Hà Nội, không được náu mình nơi quê xưa, không được thơ thẩn trên những con đường vắng của Hà Nội, như máu thịt mình bị mất đi, như hồn mình bị ai giằng xé và cướp mất.
Khi hát những dòng này, quả thật không chỉ riêng tôi mà người khác cũng muốn khóc thật đấy, nhớ hàng liễu bên hồ, nhớ những phố xưa rêu phong, nhớ những ngõ ngách chật hẹp, nhớ những con đường đông nghịt xe cộ… những hình ảnh ấy rất chi là bình thường nhưng khi hát lên thì thấy cả một trời yêu thương và nhung nhớ, cho dù ngày ấy, lúc ra thăm Hà Nội lần đầu tiên, tôi không thích lắm vì khi ấy khó tìm ra nơi có những nét văn hóa riêng biệt, những món ăn ngon và đặc trưng của Hà Nội như những gì mình biết qua sách báo, chợ Đồng Xuân thì chém chặt ai được cứ chém nên nó tạo cho mình những điều không vừa lòng, nhưng ngẫm nghĩ lại thì thấy hóa ra những cái đó đã tạo ra một Hà Nội trong tôi thật gần.
Thế mà thời gian gần đây, nghe đâu sự phát triển đến chóng mặt của Hà Nội đã làm cho một bộ phận nào đó trong giới trẻ sống buông thả, ăn chơi đua đòi, tự do yêu đương hôn hít nơi công cộng… làm mất đi những nét đẹp cổ kính một cách thuần khiết của Hà Nội, đã làm không ít người đau lòng khi nghe qua điều đáng buồn này. Giá như ta biết gìn giữ một tí thì Hà Nội sẽ đẹp biết bao nhiêu, hình ảnh Hà Nội trong lòng người sẽ quý giá trân trọng biết bao nhiêu…
Tôi đang mơ một ngày nào đó Hà Nội sẽ trở lại đẹp như thế, để những lời ca vẫn còn chứa chan cái hồn Hà Nội, vẫn còn nhung nhớ Hà Nội như một người tình. Phải, tôi đang mơ và tôi vẫn đang mơ…



